Được xem là nơi “gần gũi với Chúa Kito”, những ngọn núi mang một ý nghĩa rất to lớn đối với nền văn hóa Công giáo. Trong Kinh thánh, chúng được nhắc đến khoảng … xem thêm…hơn 500 lần; và một phần ba trong số chúng được liệt kê trong kinh Thánh đã có ít nhất một sự kiện lớn xảy ra tại đó.
Núi Ararat
Ararat là ngọn núi nổi bật thứ ba ở Tây Á, với độ cao 5.165m. Nó nằm ở phía đông Thổ Nhĩ Kỳ trên bờ sông Araks, cách Iran 16km và cách Armenia 32km. Đây thực sự là một ngọn núi lửa, và khoa học cho rằng nó đã hoạt động vào thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên. Lần phun trào cuối cùng của núi Ararat xảy ra vào giữa thế kỷ 19, gây ra một trận động đất mạnh phá hủy tu viện Thánh Jacob cùng ngôi làng nhỏ Arguri. Núi Ararat là bao gồm hai ngọn núi được hợp nhất tại chân núi là Masis và Sis, còn được gọi là Ararat lớn và Ararat nhỏ. Cả hai đỉnh núi được cấu tạo từ đá bazan, nằm trong khu vực thung lũng Sardarul-Bulaki.
Ararat lớn là ngọn núi cao nhất Thổ Nhĩ Kỳ, các sườn dốc của nó bao phủ quanh năm bởi tuyết. Đồng thời, các hang động cũng được một số Cơ Đốc nhân ở bán đảo Anatolia sử dụng làm nhà vào thời kỳ đầu. Hiện nay, khi đặt chân đến khu vực này, người ta vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh cây thánh giá cùng các biểu tượng tôn giáo khác trên vách hang. Bên cạnh đó, núi Ararat nhỏ thì nằm ở phía đông với rất ít thảm thực vật trên sườn núi do có một lớp tro và dung nham dày. Gần đó là một công viên quốc gia với diện tích hơn 88.000 hecta – nơi các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng tìm kiếm tàn tích của con tàu Noah.
Trong kinh Thánh núi Ararat được biết đến là nơi mà con tàu Noah đã đậu sau trận Lụt Đại Hồng Thuỷ. Bất chấp sự những tranh cãi cho rằng sách Sáng Thế không hề đề cập cụ thể đến ngọn núi này. Thế nhưng, dù nằm bên ngoài biên giới của Armenia, nhưng nó vẫn được xem là biểu tượng quốc gia chính của đất nước; đồng thời được người dân coi là ngọn núi linh thiêng. Nó còn được thể hiện nổi bật trong văn học cùng nghệ thuật, và cũng là biểu tượng cho chủ nghĩa phục hưng của Armenia. Ngoài ra, còn được mô tả trên quốc huy của đất nước cùng với con tàu. Vì lý do này mà người Armenia được coi là là hậu duệ trực tiếp của Noah và là những người đầu tiên bắt đầu nền văn minh sau sự kiện đó.
Trong nhiều thế kỷ, người ta tin rằng tàn tích của con tàu sẽ được tìm thấy trên đỉnh núi Ararat. Thế nên, trong suốt hơn 100 năm qua, các nhà thám hiểm vẫn luôn cố gắng tìm kiếm mọi dấu hiệu về con tàu như: gỗ bị chôn vùi, tàn tích của các công cụ, hoặc vải hay những thứ khác mà con tàu có thể chứa đựng. Một số nhà thám hiểm nói rằng radar xuyên mặt đất đã tiết lộ sự hiện diện của một số loại cấu trúc bằng gỗ nằm sâu dưới sườn núi, nhưng cho đến nay vẫn chưa ai tìm được thứ gì đó cụ thể hơn.


Núi Olives
Olives là một ngọn núi ở Jerusalem, được đặt tên theo những lùm o-liu từng bao phủ các sườn dốc của nó. Trong Cựu Ước, ngọn núi này được nhắc đến là nơi vua David trốn thoát khỏi những người lính đang cố tìm giết và chiếm đoạt quyền lực của ông. Các sườn phía tây của nó hướng về phía Jerusalem, đã được sử dụng làm nghĩa trang trong hơn 3.000 năm và chứa khoảng 150.000 ngôi mộ, khiến nó trở thành trung tâm trong truyền thống nghĩa trang của người Do Thái.
Một số sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Chúa Jesus được kể trong Tin Mừng cũng diễn ra trên núi Olives; và trong sách Công Vụ Tông Đồ, nó được mô tả là nơi mà Đức Chúa Trời đã thăng thiên. Đêm trước Bữa Tiệc Ly, Ngài đã đến đó cầu nguyện cũng như suy ngẫm về những gì Ngài biết trước sẽ xảy ra với mình vào ngày hôm sau. Lúc Chúa Jesus bị đóng đinh và phục sinh, kinh Thánh nói rằng Ngài đã lên hiên đường sau khi nói chuyện với Đức Trinh Nữ Maria cùng các tông đồ tại đây. Vì gắn liền với lịch sử Kito giáo, nên ngọn núi này đã trở thành nơi thờ cúng từ thời cổ đại. Cho đến ngày nay, nó là địa điểm hành hương chính của người Công giáo, Chính Thống giáo Đông Phương và cả những người theo đạo Tin lành.
Núi Olives là một trong ba đỉnh của dãy núi chạy dài 3,5km về phía đông của thành phố cổ băng qua thung lũng Kidron. Đỉnh ở phía bắc của nó là núi Scopus, cao 826m; còn đỉnh ở phía nam là núi Corruption, cao 747m; và điểm cao nhất trên núi Olives là At-Tur, với độ cao 818m. Dãy núi này đóng vai trò như một lưu vực sông, phía đông là điểm bắt đầu của sa mạc Judean. Nó được hình thành từ đá trầm tích đại dương cùng đá lửa cứng. Mặc dù loại đá này khá dễ dàng để khai thác, nhưng không phải là loại vật liệu phù hợp để xây dựng. Bên cạnh đó, nó còn có nhiều hang động chôn cất nhân tạo.
Các địa danh trên núi Olives bao gồm: bệnh viện Augusta Victoria, nhà thờ Thăng Thiên Chính Thống Nga cùng tháp chuông khổng lồ cao 50m, nhà thờ Hồi giáo, nhà thờ Pater Noster và khách sạn Seven Arches. Trên sườn phía đông nam của nó là ngôi làng al-Eizariya của người Palestine. Đây được xác định là ngôi làng cổ Bethany từng được đề cập trong Tân Ước. Cách trung tâm làng một đoạn ngắn về phía đỉnh núi, là địa điểm truyền thống thờ phượng, được đánh dấu bởi một nhà thờ dòng Francis.


Núi Nebo
Nebo là một ngọn núi xa xôi nằm ở Jordan ngày nay, với độ cao khoảng 700m so với mực nước biển. Là một phần của dãy núi Abarim, nó được nhắc đến trong Cựu Ước là nơi mà Moses nhìn thấy miền Đất Hứa trước khi qua đời, và ông đã được chôn cất trong một ngôi mộ trên sườn núi. Đây cũng là nơi mà dân tộc của Moses có thể được an toàn sau khi rời Ai Cập, mặc dù ông được thông báo rằng bản thân sẽ không được phép vào đó.
Tầm nhìn từ đỉnh núi mang đến một bức tranh toàn cảnh của Bờ Tây qua thung lũng sông Jordan; thành phố Jericho và Jerusalem cũng được nhìn thấy từ đây. Bên cạnh đó là giá trị nghệ thuật từ tác phẩm điêu khắc hình chữ thập ngoằn ngoèo trên ngọn núi được tạo ra bởi nghệ sĩ người Ý tên là Gian Paolo Fantoni – tác phẩm tượng trưng cho phép lạ về con rắn đồng trong kinh Thánh được Moses cầu khẩn trong hoang địa và cây thập tự mà Chúa Jesus bị đóng đinh trên đó. Người ta cũng đưa ra giả thuyết rằng Hòm Giao Ứớc đã được giấu ở đâu đó trên núi Nebo. Mặc dù đã có những cuộc tìm kiếm nó trong nhiều thế kỷ, nhưng không ai có thể tìm thấy gì.
Trên điểm cao nhất tại núi Nebo là tàn tích của một nhà thờ Byzantine cùng một tu viện được phát hiện vào năm 1933. Nhà thờ được xây dựng lần đầu tiên vào nửa sau thế kỷ thứ 4 để tưởng nhớ nơi qua đời của Moses, thiết kế theo phong cách vương cung thánh đường điển hình. Nó được mở rộng vào cuối thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, và được xây dựng lại vào năm 597. Sáu ngôi mộ được tìm thấy làm từ đá tự nhiên bên dưới sàn phủ khảm của nhà thờ. Một nơi trú ẩn bằng kim loại đã được dựng lên trên đống đổ nát, nhưng bị gián đoạn do cuộc chiến tranh giữa Ả Rập và Israel năm 1967. Khi công việc củng cố hoàn thành năm 1984, nhà thờ được sử dụng cho cả mục đích phụng vụ cũng như trưng bày các bức tranh khảm đã phục hồi. Sau khi lập kế hoạch đổi mới vào năm 1989, cùng với sự khảo sát, đánh giá địa chất về các công trình kiến trúc cổ xưa lẫn hiện đại đã được thực hiện một thập kỷ sau đó. Một vương cung thánh đường mới hoàn chỉnh được xây dựng lại trên nhà thờ cổ ra đời.
Ngày 20 tháng 3 năm 2000, Đức Giáo Hoàng John Paul II trong chuyến hành hương tới Thánh địa viếng thăm núi Nebo của mình, ông đã trực tiếp rồng một cây ô-liu bên cạnh nhà nguyện Byzantine như một biểu tượng của sự hòa bình.


Núi Gerizim
Gerizim là một trong hai ngọn núi ở vùng lân cận gần thành phố Nablus của Palestine, và thành phố Shechem trong kinh Thánh. Nó tạo thành phía nam của thung lũng Nablus, phía bắc được hình thành bởi núi Ebal. Đây là một trong những đỉnh núi cao nhất ở Bờ Tây, với độ cao tới 881m so với mực nước biển, thấp hơn 70m so với núi Ebal. Ngọn núi này đặc biệt dốc ở phía bắc, trên đỉnh có cây bụi thưa thớt, phía dưới là một con suối với lượng nước ngọt dồi dào. Đối với người Samari, hầu hết sống xung quanh đây, núi Gerizim được coi là nơi linh thiêng trên Trái đất. Vì tuy không phải là ngọn núi nổi tiếng nhất trong kinh Thánh nhưng là quê hương của họ trong hàng ngàn năm, và cũng là địa điểm được Thiên Chúa chọn làm đền thờ Thánh.
Theo truyền thuyết của người Samari, đây là ngọn núi lâu đời nhất, cao chót vót trên trận Đại Hồng Thủy và cũng là vùng đất đầu tiên cho chuyến lên bờ của Noah. Nó còn là nơi mà Abraham đã đem con trai mình là Issac hiến tế cho Đức Chúa Trời sau khi Ngài thử lòng ông với yêu cầu giết con trai của mình để thể hiện sự vâng phục. Abraham lẽ ra đã làm điều đó, nhưng vào giây cuối cùng, Đức Chúa Trời đã bảo ông dừng lại, thay vào đó hãy giết một số động vật để làm lễ tế thay cho Issac.
Núi Gerizim cho đến ngày nay vẫn tiếp tục là trung tâm tôn giáo của người Samari. Họ sẽ lên trên đỉnh ba lần một năm vào các dịp: Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều Tạm. Lễ Vượt Qua vẫn được cử hành bằng cách hiến tế chiên con. Hiện tại, khoảng một nửa số người Samari còn lại đều sống gần núi Gerizim, chủ yếu tại ngôi làng nhỏ Kiryat Luza.
Các phát hiện khảo cổ học cũng đã chỉ ra rằng người ta tìm thấy hàng nghìn bình gốm cùng xương hiến tế của động vật: cừu, dê, gia súc và chim bồ câu; cũng như nhiều viên đá có dòng chữ Tetragrammaton (tên của Chúa trong kinh Thánh Do Thái) tại khuôn viên của ngôi đền Samari. Vào năm 475 sau công nguyên, một nhà thờ Thiên Chúa giáo được xây dựng trên đỉnh núi, đồng thời những tàn tích rộng lớn vẫn còn tồn tại. Năm 484, dưới thời trị vì của Hoàng đế Zeno, nhà thờ hình bát giác kiểu tử đạo dành riêng cho Đức Trinh Nữ Maria đã được dựng lên tại địa điểm này. Năm 529, Justinian I (cựu hoàng đế Đông La Mã) đã coi chủ nghĩa của người Samari là bất hợp pháp, nên sắp xếp xây dựng một bức tường bảo vệ xung quanh nhà thờ. Kết quả là cùng năm đó, một người tên Julianus ben Sabar đứng lên lãnh đạo một cuộc nổi dậy. Cho đến năm 530, họ đã chiếm được phần lớn khu vực đó, phá hủy các nhà thờ, ra tay với các linh mục cùng quan chức. Tuy nhiên, năm 531, sau khi vị hoàng đế này tranh thủ được sự giúp đỡ của người Ghassanids, thì cuộc nổi dậy đã hoàn toàn bị dập tắt, những người Samari sống sót hầu hết đều bị bắt làm nô lệ hoặc bị lưu đày. Năm 533, Justinian I đã cho xây dựng một lâu đài trên núi Gerizim để bảo vệ nhà thờ khỏi các cuộc đột kích của một số ít người Samari bất mãn còn sót lại trong khu vực.


Có thể bạn thích:














