Các nhà khoa học đã đo âm thanh do những sinh vật trong tự nhiên tạo ra và chúng đã gây bất ngờ cho chính họ. Ở đây, các nghiên cứu chỉ muốn nhấn mạnh rằng … xem thêm…những loài động vật có khả năng có thể tạo ra âm thanh lớn đến mức chúng có thể làm thủng màng nhĩ của con người chúng ta. Cùng TopChuan.com điểm mặt lại những ‘hiệp sĩ’ ồn ào nhất trong tự nhiên theo tạp chí National Geographic.
Khỉ hét – Loài trên cạn ồn ào nhất
Khỉ hét là loài vật trên cạn ồn ào nhất. Dân số đông loài này sống trong các rừng mưa Nam Mỹ. Vài người cho rằng những tiếng hét của chúng thực ra giống với tiếng gầm hơn, và có thể nghe thấy được từ cách 4,8 kilomet. Âm lượng tiếng hét của khỉ hét đo được từ cách 5 mét lên đến 88 decibel, gần bằng âm thanh phát ra khi tàu điện ngầm đang chạy trên đường ray (95 decibel). Khỉ hét chỉ đứng sau cá voi xanh về âm lượng âm thanh nó tạo ra.
Nghiên cứu đã chỉ ra, khỉ hét ‘hét’ bằng chiếc xương móng hình chữ U trong họng con vật. Chiếc xương này không thực sự móc với bất kỳ chiếc xương nào khác, vì vậy nó chỉ có vẻ treo ở đó. Chiếc xương phóng đại đó tạo thành một chiếc túi họng giúp cộng hưởng tiếng hét trước khi nó vỡ thoát ra ngoài khỏi vòm miệng con vật.
Loài khỉ hét vì nhiều mục đích khác nhau, hét để thông báo địa điểm, để bảo vệ lãnh thổ, để bảo vệ bạn, nhưng con người vẫn chưa biết đến ‘từ vựng’ của chúng.
Các con khỉ đực trưởng thành luôn rất yêu thương khỉ con trong đàn cho dù không phải là con của chúng. Sau khi chào đời, mỗi con khỉ con thường có một con khỉ đực đảm nhận việc chăm sóc. Khi cảm thấy có mối nguy hiểm, khỉ con liền chạy đến bên thành viên chịu trách nhiệm chăm sóc nó để được bảo vệ, vỗ về. Các con đực không nhất thiết phải là cha của con khỉ con, nó đảm nhận vai trò chăm sóc thành viên nhỏ như một bảo mẫu.

Dơi Bulldog
Loài dơi bulldog lớn có nguồn gốc từ Caribean, sử dụng khả năng định vị bằng tiếng vang để tìm thức ăn, giống như tất cả các loài dơi nói chung. Tuy nhiên, thay vì ăn những loài côn trùng quen thuộc, loài dơi này lại ăn cá. Chúng có khả năng phát ra những âm thanh xuyên qua cả không khí hay môi trường nước, những âm thanh phát ra này có thể đạt tới 140 decibel. Những âm thanh đặc biệt lớn này là siêu âm, nghĩa là chúng nằm ngoài ngưỡng nghe của con người.
Dơi bulldog có bộ lông màu cam đến nâu, chiều dài đầu từ 7 đến 14 cm và trọng lượng 20 – 75 g, khiến chúng khá lớn. Chúng có đôi chân tương đối dài, bàn chân lớn (đặc biệt là trong trường hợp của loài dơi bulldog lớn hơn) và móng vuốt khỏe. Cánh của chúng dài (sải tới 60 cm) và hẹp, tai lớn, hình phễu và nhọn. Khác thường ở các loài dơi, chúng có túi má để đựng thức ăn. Chúng cũng có đôi môi đầy đặn được phân chia bởi một nếp da tạo nên vẻ ngoài giống ‘môi thỏ’, cùng với các túi má khiến chúng có ngoại hình giống chó mặt xệ.
Hàm trên và răng trước của chúng được hợp nhất để tạo sự hỗ trợ mạnh mẽ cho các răng cửa lớn ở giữa trên. Công thức răng: 2/1, 1/1, 1/2, 3/3 = 28. Răng hàm bị lao. Không giống như các loài dơi khác, đốt sống cổ cuối cùng không hợp nhất với đốt ngực đầu tiên. Ngón thứ hai trên cánh có một siêu ngón tay dài và một phalanx tiền đình. Các ischia được hợp nhất với nhau và với xương cùng . Cái sau giống như keel.
Các loài dơi bulldog nhỏ hơn là loài ăn côn trùng , và trong khi các loài dơi bulldog lớn hơn cũng ăn côn trùng, thức ăn chính của chúng là cá. Chúng sử dụng khả năng định vị bằng tiếng vang để xác định chính xác các gợn sóng chúng tạo ra trên bề mặt nước.
Loài dơi bulldog lớn hơn có thể đánh cá trên mặt nước với những cái móng dài và cong của nó khoảng 2–3 cm dưới mặt nước. Nó thực hiện quét từ 30 cm đến 3 m trước khi tăng dần và quay đầu để thực hiện quét ngược lại. Trong một đêm, dơi có thể bắt được 20-30 con cá nhỏ theo cách này.

Cá voi xanh – Ca sỹ đại dương
Cá voi xanh là loài vật ồn ào nhất trong tất cả các loài vật từng được biết đến, với âm lượng lên đến 118 decibel. Cá voi xanh không hát những ‘bài hát’ phức tạp như những con cá voi lưng gù song những tiếng kêu tần số thấp của chúng – dưới ngưỡng con người có thể nghe thấy, có thể được nhận ra từ cách hơn 805 kilomet. Những tính toán từ những năm 1970 của hai nhà khoa học Roger Payne và Douglas Webb đã đoán, tiếng hát của cá voi xanh có thể lan truyền xuyên đại dương.
Cá voi xanh ‘hát’ to hơn máy bay phản lực (âm lượng 140 decibel). Tiếng hét to nhất của con người chỉ đạt hơn 70 decibel. Trong khi ngưỡng âm thanh gây đau tai cho con người là từ 120 – 130 decibel. Vài năm trước đây, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng cá voi đang giảm tần suất số lần hát đi.
Cá voi xanh được mệnh danh là những ca sĩ lãng du khắp các đại dương. Vì cá voi xanh có thể phát ra âm thanh siêu trầm ở tần số 14 Hz.Và nó cũng phát ra thứ âm thanh lớn nhất trên thế giới, lớn hơn cả tiếng rít của máy bay phản lực với cường độ 200 decibel. Nếu so sánh với tiếng hét của loài người ở 70 decibel, âm thanh cao hơn 120 decibel gây nguy hiểm cho tai người.
Người ta không rõ mục đích của những tiếng kêu này là gì. Richardson et al. (1995) nêu ra một số lý do có thể:
- Giữ khoảng cách giữa các cá nhân
- Nhận biết loài và cá nhân trong loài
- Truyền đạt thông tin (ăn, báo động, tán tỉnh)
- Giữ tổ chức xã hội (ví dụ như các tiếng kêu giữa con đực và con cái)
- Đánh dấu vị trí nguồn thức ăn

Chim dầu – Đi ngủ vẫn gây ồn
Khi chim dầu (oilbird) trở về tổ là những cái hang để đi ngủ, đoàn đông loài chim ồn ào nhất từng được biết đến có thể gây điếc tai bạn. Chim dầu sử dụng cơ chế định vị bằng tiếng vang để tìm đường đi trong những hang động hoàn toàn tối. Tuy nhiên, không giống tiếng kêu của các loài dơi, tiếng quác quác của chim dầu ở trong ngưỡng nghe thấy của con người. Mỗi con chim có thể tạo ra âm thanh quác quác lên đến 100 decibel đo ở cự ly gần, cả bầy đoàn gồm hàng nghìn con chim dầu cộng hưởng âm thanh lên mức khủng khiếp.
Chim dầu dường như sử dụng cơ chế định vị bằng tiếng vang chỉ khi ở trong nhà là những cái hang mà không sử dụng chúng trong những cuộc tìm kiếm thức ăn ban đêm. Điều này có thể bởi vì độ nhạy của chúng không cao. Một thí nghiệm khoa học cho thấy chim dầu đâm đầu thẳng vào những đĩa nhựa rộng 10 centimet nhưng chúng có thể tránh được những cái đĩa rộng 20 centimet và rộng hơn.
Chúng ăn vào ban đêm, ăn quả của loài cây dầu cọ và nguyệt quê nhiệt đới, và là loài chim ăn trái cây ban đêm duy nhất trên thế giới. Chúng tìm kiếm thức ăn vào ban đêm, điều hướng bằng cách định vị bằng tiếng vang như loài dơi, nhưng với một âm thanh lách cách có âm vực cao trong khoảng xung quanh 2 kHz mà con người có thể nghe được. Alexander von Humboldt đã phát hiện ra loài này khi leo lên đỉnh núi lửa Teide và tới Cumaná, Venezuela ngày 16 tháng 7. von Humboldt tới thăm hội truyền giáo ở Caripe và phát hiện ra loài chim dầu.

Chim Kakapo
Kakapo còn được gọi là vẹt cú, là loài chim ồn ào nhất. Tiếng gọi bạn tình của loài bản địa New Zealand này có thể lớn tới 132 decibel. Kakapo hoạt động về đêm, là loài vẹt nặng nhất trên thế giới, nặng 4,85 pound (2,2 kg) đối với con đực, nó cũng là loài chim sống lâu nhất được biết đến, có thể sống đến 90 tuổi.
Với màu lông xanh và nâu vàng đặc trưng, vẹt Kakapo nổi tiếng thế giới là loài vẹt sống lâu nhất và nặng nhất thế giới. Loài chim này cũng từng có nguy cơ bị tuyệt chủng trước khi được khôi phục thành công, số lượng loài vẹt này đã tăng từ 50 con trong thập niên 1990 lên 213 cá thể trong hiện tại.
Vẹt Kakapo, còn được gọi là “gà rêu dũng mãnh”, từng sống trên khắp lãnh thổ New Zealand, nhưng ngày nay chỉ sinh sống trên những hòn đảo không có động vật ăn thịt.Những con vẹt trống thường phát ra âm thanh lớn để thu hút con mái, theo Laura Keown, phát ngôn viên của cuộc thi “Chim của năm” cho biết.
Điều đặc biệt ở giống vẹt này không giống ở bất cứ giống nào khác đó chính là chúng không thể bay có thể do kích thước quá to lớn khiến đôi cánh không thể tải nổi. Do đó, chúng còn được đặt cho một biệt danh là vẹt không biết bay. Là một giống vẹt sống về đêm, chúng kiếm ăn, tìm kiếm bạn tình vào ban đêm. Điều này khiến cho một số nơi người ta còn gọi chúng với một tên khác là vẹt cú vì thói quen sinh hoạt khá tương đồng với chim cú.

Dế chũi Gryllotalpa vinae – Khuyếch đại tiếng hát bằng loa tự tạo
Loài dế chũi Gryllotalpa vinae là loài côn trùng ồn ào nhất. Loài dế này sử dụng chân trước chuyên hóa của nó để đào những cái hang hình loa. Đứng bên trong cái loa đã đào, con dế có thể kêu chíp chíp to đủ để một người đứng từ cách 600 mét cũng nghe thấy.
Máy ghi âm đặt cách 1 mét từ đầu hang con dế đã ghi lại được âm thanh có âm lượng lên đến 92 decibel, lớn hơn âm lượng máy cắt cỏ. Thực tế, loài G. vinae đã ‘chơi gian’ khi sử dụng cái hang đào để có thể kích âm thực thoát ra từ cơ thể, chuyển 30% năng lượng của nó thành âm thanh khuyếch đại.
Là một họ côn trùng thân dày, dế chũi có một cái đầu được bọc một lớp giáp chắc chắn giúp nó có thể bảo vệ được cái đầu của mình, và có một chiếc râu dài,dài khoảng 3–5 cm với mắt tròn với hai chân trước như hai chiếc xẻng phát triển thuận lợi cho việc đào hang và bơi. Dễ chũi cũng có thể bay – một con trưởng thành có thể bay xa 8 km trong mùa sinh sản. Mùa đông thì chúng đi ngủ đông. Dễ chũi là loài ăn tạp, chúng ăn cả ấu trùng, giun, rễ cây, cỏ. Các loại kẻ thù ăn thịt dế trũi có chim, chuột, chồn hôi, tatu, gấu trúc Mỹ, cáo,gà và loài người.
Dễ chũi kiếm ăn ban đêm và phần lớn thời gian chúng ở dưới đất trong một hệ thống hang dày đặc nên ít khi bắt gặp chúng. Chúng sống ở những khu vực đồng ruộng, bãi cỏ ở khắp các châu lục ngoại trừ châu Nam Cực. Ở một số nước Đông Á, người ta đôi khi sử dụng dế chũi làm thực phẩm.

Đánh dấu vị trí nguồn thức ăn
Giữ tổ chức xã hội (ví dụ như các tiếng kêu giữa con đực và con cái)
Có thể bạn thích:














